Chính phủ yêu cầu kiểm tra việc kê khai, niêm yết và thực hiện giá cước vận tải, không để xảy ra tình trạng giá nhiên liệu tăng thì cước tăng nhưng khi nhiên liệu giảm lại không điều chỉnh giảm.
Nghị quyết 216/NQ-CP ngày 6/8/2026 đặt ra một yêu cầu tưởng đơn giản nhưng chạm đúng vào một nghịch lý tồn tại lâu nay trên thị trường vận tải: chi phí đầu vào tăng thì giá cước phản ứng rất nhanh, nhưng khi chi phí giảm, giá cước lại có thể “đứng im”.
Tại điểm g mục 8 Phụ lục II, Chính phủ giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương tăng cường kiểm tra việc kê khai giá, niêm yết giá và thực hiện giá cước của các đơn vị kinh doanh vận tải; trường hợp vi phạm phải được xử lý nghiêm theo quy định. Đáng chú ý, Nghị quyết yêu cầu không để xảy ra tình trạng tăng giá cước khi giá nhiên liệu tăng nhưng không điều chỉnh giảm giá cước khi giá nhiên liệu đã giảm.
Tăng giá có lý do, giảm giá cũng phải có trách nhiệm
Ảnh minh họa
Trong kinh doanh vận tải, nhiên liệu là một cấu phần quan trọng của chi phí. Khi giá xăng dầu tăng, doanh nghiệp đối mặt với chi phí vận hành cao hơn và việc điều chỉnh giá cước là điều có thể hiểu được. Nhưng vấn đề nằm ở chiều ngược lại: khi giá nhiên liệu giảm, khoản chi phí được tiết giảm ấy có được phản ánh vào giá dịch vụ hay không?
Không thể đánh đồng rằng cứ nhiên liệu giảm bao nhiêu phần trăm thì giá cước phải giảm đúng bằng bấy nhiêu. Giá vận tải còn bao gồm tiền lương, khấu hao phương tiện, sửa chữa, bảo dưỡng, phí cầu đường, bến bãi, bảo hiểm, chi phí tài chính và nhiều khoản khác. Một doanh nghiệp có thể vẫn phải giữ nguyên giá cước nếu các chi phí khác tăng hoặc mức giảm nhiên liệu chưa đủ lớn để tạo ra thay đổi đáng kể trong giá thành.
Nhưng đó phải là một câu chuyện có căn cứ, không thể trở thành chiếc “ô” để giá chỉ đi theo một chiều. Nếu doanh nghiệp đã lấy giá nhiên liệu làm lý do để tăng cước thì khi nhiên liệu giảm, việc không điều chỉnh cũng cần được giải thích bằng những biến động chi phí cụ thể. Không thể lúc tăng giá thì viện dẫn thị trường, còn lúc giảm giá lại chỉ viện dẫn những yếu tố có lợi cho việc giữ giá.
Đây chính là ý nghĩa đáng chú ý trong yêu cầu kiểm tra của Chính phủ. Kiểm tra giá cước không nên được hiểu đơn giản là buộc mọi doanh nghiệp phải giảm giá ngay khi giá nhiên liệu giảm. Điều quan trọng hơn là kiểm tra tính minh bạch của quá trình hình thành giá: doanh nghiệp kê khai thế nào, niêm yết ra sao, căn cứ vào những yếu tố chi phí nào và việc thực hiện giá có đúng với mức đã kê khai hay không.
Nếu làm được điều này, cơ quan quản lý không can thiệp thô vào quyền định giá của doanh nghiệp nhưng vẫn tạo ra một “hàng rào” cần thiết để ngăn việc lợi dụng biến động chi phí đầu vào nhằm tăng giá bất hợp lý.
Đừng để giá chỉ chạy một chiều
 |
|
Nghị định 218/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 10/8 siết hoạt động của xe hợp đồng đặc biệt là việc đón trả khách tại các điểm cố định và trên đường phố Với một số trường hợp vi phạm doanh nghiệp có thể bị thu hồi giấy phép kinh doanh vận tải
|
Điều người tiêu dùng quan tâm không chỉ là giá cước bao nhiêu mà còn là vì sao mức giá ấy tồn tại và bao giờ nó được điều chỉnh. Một thị trường vận tải lành mạnh phải có khả năng phản ánh cả chiều tăng lẫn chiều giảm của chi phí. Nếu nhiên liệu tăng, giá cước tăng; nhiên liệu giảm, giá cước vẫn đứng yên trong thời gian dài mà không có lý do thuyết phục, sự bất cân xứng ấy tất nhiên sẽ tạo ra nghi ngờ.
Đáng nói, đây không chỉ là câu chuyện vài nghìn đồng trên một chuyến taxi, một cuốc xe công nghệ hay một lần vận chuyển hàng hóa. Chi phí vận tải là một mắt xích của cả nền kinh tế. Cước vận tải cao kéo theo chi phí logistics, giá hàng hóa và cuối cùng có thể được tính vào túi tiền của người tiêu dùng. Vì vậy, mỗi khoản chi phí bất hợp lý trong vận tải đều có khả năng lan sang nhiều khâu khác của thị trường.
Nghị quyết 216/NQ-CP vì thế cần được thực hiện theo hướng kiểm tra bằng dữ liệu, xử lý có căn cứ và công khai kết quả, thay vì chỉ kiểm tra khi dư luận phản ánh. Cơ quan quản lý có thể theo dõi diễn biến giá nhiên liệu cùng mức điều chỉnh cước của từng nhóm vận tải, từ đó nhận diện những trường hợp tăng giá nhanh nhưng giảm giá chậm bất thường. Doanh nghiệp làm đúng cũng được bảo vệ, bởi họ có cơ sở để chứng minh mức giá của mình xuất phát từ chi phí thực tế chứ không phải tùy tiện.
Suy cho cùng, doanh nghiệp có quyền kinh doanh và phải bảo đảm hiệu quả hoạt động; người tiêu dùng cũng có quyền được sử dụng dịch vụ với mức giá hợp lý và minh bạch. Hai quyền này không đối lập nhau. Thứ cần loại bỏ là khoảng mờ trong quá trình hình thành giá.
Tăng thì tăng luôn, giảm phải đợi… bắt? Câu hỏi nghe có vẻ châm biếm nhưng lại phản ánh một vấn đề rất thực tế. Nếu giá chỉ nhạy cảm với chiều tăng của chi phí mà “ì ạch” trước chiều giảm, thị trường sẽ mất đi sự cân bằng. Yêu cầu của Chính phủ lần này, xét cho cùng, không phải bắt doanh nghiệp bán rẻ, mà là buộc giá phải có lý do, có căn cứ và quan trọng nhất, phải vận động theo đúng logic của thị trường.
Đình Sáng