Thông tư 40/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1/11/2026, với những thay đổi gắn với quản trị vốn thực chất, cảnh báo sớm, kiểm soát thanh khoản và cơ chế can thiệp theo mức độ rủi ro. Đây có thể là bước chuyển quan trọng, buộc quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) thay đổi từ tư duy đáp ứng tỷ lệ sang quản trị rủi ro ngay trong quá trình vận hành.
Đổi cách nhìn về an toàn của QTDND
Ngày 10/8/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của QTDND. Văn bản này sẽ có hiệu lực từ ngày 1/11/2026 và bãi bỏ Thông tư 32/2015/TT-NHNN cùng Thông tư 13/2024/TT-NHNN.
Theo đó, có thể thấy một quá trình chuyển đổi khá rõ rằng Thông tư 32/2015 đặt nền móng cho hệ thống giới hạn, tỷ lệ an toàn trong hoạt động QTDND; Thông tư 13 sửa đổi, bổ sung hệ thống này để phù hợp hơn với Luật Các tổ chức tín dụng 2024, trong đó điều chỉnh cách xác định vốn tự có, cách tính một số tỷ lệ và bổ sung tỷ lệ tổng mức nhận tiền gửi so với vốn chủ sở hữu tối đa 20 lần.
Thông tư 40 tiếp tục kế thừa nhiều “hàng rào” quan trọng. QTDND vẫn phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%; tỷ lệ khả năng chi trả trong ngày làm việc tiếp theo và trong 7 ngày làm việc tiếp theo tối thiểu 100%; tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung, dài hạn tối đa 30%; tổng mức nhận tiền gửi so với vốn chủ sở hữu không vượt quá 20 lần.
Điều này cho thấy điểm mới của Thông tư 40 không nằm chủ yếu ở việc ‘nâng hay hạ’ các ngưỡng an toàn. Cái mới nằm ở cách xác định tình trạng an toàn và cách xử lý khi rủi ro bắt đầu xuất hiện.
Thông tư 40: Bước chuyển từ quản lý tỷ lệ sang quản trị rủi ro tại QTDND (ảnh: Đinh Phương)
Đáng chú ý nhất là quy định về giá trị thực của vốn điều lệ. Theo Thông tư 40, QTDND phải thường xuyên theo dõi, đánh giá giá trị thực của vốn điều lệ; giá trị này được xác định sau khi đã trích lập đầy đủ dự phòng rủi ro và tính đầy đủ thu nhập, chi phí, về cơ bản bằng vốn điều lệ cộng lợi nhuận lũy kế chưa phân phối, trừ lỗ lũy kế chưa xử lý.
Đây là thay đổi có ý nghĩa quản trị rất lớn. Bởi một QTDND có thể vẫn có mức vốn điều lệ trên sổ sách, nhưng nếu hoạt động tín dụng phát sinh tổn thất, nợ xấu tăng và phải trích lập dự phòng, giá trị thực của phần vốn này có thể suy giảm đáng kể.
Từ đây, khái niệm “an toàn vốn” được nhìn thực chất hơn. Vấn đề không chỉ là quỹ có bao nhiêu vốn, mà là sau khi phản ánh đầy đủ rủi ro và tổn thất, quỹ còn bao nhiêu năng lực tài chính thực sự để hấp thụ rủi ro.
Đặc biệt, khi giá trị thực của vốn điều lệ thấp hơn mức vốn pháp định, QTDND phải xây dựng và triển khai phương án xử lý; trong thời hạn tối đa 30 ngày phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực, nêu rõ giá trị thực, nguyên nhân và biện pháp khắc phục. Nếu giá trị thực giảm xuống dưới 80% mức vốn pháp định, cơ quan quản lý có thể áp dụng các biện pháp mạnh hơn như hạn chế chia lãi, hạn chế mở rộng quy mô, yêu cầu tăng vốn, giới hạn tăng trưởng tín dụng hoặc áp dụng tỷ lệ an toàn chặt chẽ hơn. Như vậy, cơ chế quản lý đã chuyển từ phản ứng sau khi rủi ro bộc lộ sang can thiệp theo cấp độ suy giảm.
QTDND vận hành theo cơ chế cảnh báo sớm
Yêu cầu về quản trị nội bộ lại tác động trực tiếp đến cách một QTDND tổ chức vận hành. Thông tư 40 đưa yêu cầu quản trị rủi ro xuống sâu hơn trong quy trình hoạt động. Các quy định nội bộ của QTDND phải bao quát cơ cấu tổ chức, phân cấp và ủy quyền, cơ chế theo dõi, cảnh báo sớm, phương án xử lý và kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Đối với tỷ lệ an toàn vốn, thanh khoản và tín dụng, yêu cầu không dừng ở việc tính toán chỉ tiêu mà phải có cơ chế nhận diện nguy cơ và phương án xử lý.
Điều này tạo ra một thay đổi đáng kể về vai trò của Hội đồng quản trị và bộ máy điều hành. Nếu trước đây việc tuân thủ có thể được nhìn nhận như nhiệm vụ của bộ phận kế toán, tín dụng hoặc kiểm soát, thì theo cách tiếp cận mới, an toàn phải trở thành trách nhiệm xuyên suốt của hệ thống quản trị.
Một khoản vay lớn không còn chỉ được xem xét ở câu hỏi “có nằm trong hạn mức hay không”, mà còn phải đặt trong quy trình thẩm định, phê duyệt, theo dõi và kiểm soát. Đặc biệt, quy định nội bộ phải xác định rõ việc thẩm định, phê duyệt, quyết định và theo dõi đối với các khoản vay trên 5% vốn tự có và các khoản vay không có bảo đảm bằng tài sản của QTDND.
Điều này có thể làm thay đổi đáng kể cách các quỹ tổ chức hoạt động tín dụng. Tăng trưởng dư nợ nhanh nhưng tập trung vào một số khách hàng lớn sẽ trở nên khó khăn hơn khi giới hạn cấp tín dụng tiếp tục được kiểm soát theo Luật Các tổ chức tín dụng. QTDND sẽ phải quan tâm nhiều hơn đến phân tán danh mục, chất lượng khách hàng và khả năng trả nợ thay vì chỉ chú trọng tăng trưởng tín dụng.
Thanh khoản cũng được đặt trong tư duy tương tự. Thông tư 40 vẫn giữ tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100%, nhưng đồng thời quy định rõ hơn về trường hợp QTDND có nguy cơ mất khả năng chi trả. Theo đó, nguy cơ được xác định khi thiếu hụt tài sản có thể thanh toán ngay ở mức từ 20% trở lên so với mức tối thiểu cần thiết để đáp ứng tỷ lệ trong thời gian 30 ngày liên tục. Khi xuất hiện nguy cơ, QTDND phải kịp thời báo cáo cơ quan quản lý và Ngân hàng Hợp tác xã chi nhánh.
Điều này có nghĩa quản trị thanh khoản không thể chỉ là phép tính cuối ngày. QTDND phải biết dòng tiền vào, dòng tiền ra, kỳ hạn nguồn vốn, nghĩa vụ thanh toán và khả năng đáp ứng các cú sốc rút tiền đang vận động như thế nào.
Từ góc độ hệ thống, đây là thay đổi quan trọng. QTDND vốn có đặc thù hoạt động gắn chặt với cộng đồng thành viên và địa bàn, nên một sự cố thanh khoản tại một quỹ không chỉ ảnh hưởng đến bản thân quỹ mà còn có thể tác động đến niềm tin của người gửi tiền và sự ổn định của hệ thống.
So với Thông tư 32/2015 và Thông tư 13/2024, Thông tư 40 cho thấy một bước tiến rõ hơn trong tư duy quản lý QTDND: từ quản lý bằng các ngưỡng an toàn sang quản lý bằng cả chất lượng vốn, khả năng nhận diện rủi ro và năng lực xử lý rủi ro. Những con số như 8%, 100%, 30% hay 20 lần có thể không thay đổi nhiều, nhưng cách QTDND phải vận hành phía sau những con số đó đã thay đổi.
Từ ngày 1/11/2026, một QTDND an toàn sẽ không chỉ là quỹ “không vi phạm tỷ lệ”, mà phải là quỹ có khả năng phát hiện sớm sự suy giảm, kiểm soát nguyên nhân và chủ động xử lý trước khi rủi ro chuyển thành khủng hoảng. Đây cũng sẽ là phép thử quan trọng đối với năng lực quản trị, chất lượng dữ liệu, hệ thống kiểm soát nội bộ và trách nhiệm của người quản lý tại từng QTDND.
Phượng Hòa