Chợ quê chưa thể nào biến mất trước sự xấm lấn ngày càng sâu rộng của siêu thị hay trung tâm thương mại, nhưng nó đang ngày càng mờ nhạt. Còn đâu “Những cô hàng xén răng đen/Cười như mùa thu toả nắng”… như chút hoài niệm xa xăm về chợ quê Việt, về cái không gian văn hoá trĩu nặng tình người bao đời vẫn được nhiều người nhớ đến.
Thực tế cuộc sống đang khiến mọi thứ đổi thay, nhưng nếu người phố có dịp nào được trở về với làng quê, đâu đó khắp đất nước hình chữ S này, chợ quê vẫn còn đượm mùi “thôn ổ”, vẫn là mớ rau, mấy con cá hay những nồi, xong, chậu, dao, kéo... Có thể những quang gánh hai đầu của các bà, các mẹ có lẽ không còn nhiều như chơ quê xưa, nhưng vốn là trung tâm văn hóa cộng đồng, là hồn cốt của quê hương, nên chợ quê chưa bao giờ thất thế.
Chợ quê những ngày giáp tết. Ảnh: Hải Quốc/TT
Nhớ “hồn quê” chợ Tết
Cái hồn Việt ấy trải dài từ Bắc chí Nam, từ xuôi lên ngược, dù trên bến hay dưới thuyền, dù giữa dòng sông hay lưng chừng núi, dù vùng sầm uất trù phú hay chốn quê nghèo… Ở đâu, chợ quê cũng mang bóng dáng như nhau. Với tôi, chợ quê vẫn là vẻ đẹp tinh túy của nền văn hóa lâu đời, và nó sẽ mãi trường tồn.
Có lẽ, mỗi độ Tết đến, Xuân về, trong chúng ta, ai cũng đều nhớ những ngày Tết xưa được theo mẹ đi chợ quê sắm Tết. Ở đó, có người ta bán hoa mai, hoa đào và đủ thứ nhu yếu phẩm phục vụ ngày Tết. Cái khoảnh khắc đó thật vô tư, hồn nhiên nhưng đọng lại sâu thẳm trong tiềm thức mỗi người. Ngày nay, khi cuộc sống ngày càng hiện đại thì dấu ấn chợ quê cũng đang phai nhạt dần. Vậy nhưng, trong dòng chảy của nền văn hóa đất nước, chợ quê vẫn có vị trí trang trọng cho dù có bị lớp bụi của thời gian phủ lên.
Có lẽ, chợ Việt Nam vẫn được xem là mô hình kinh doanh độc đáo bậc nhất trên thế giới. Xưa, chợ hình thành theo cách thức khá đơn giản, đó có thể là bãi đất trống, là dọc lối vào làng,… ở đó kiểu cách bày bán cũng đơn sơ với ít rau, vài con cá, mấy ký thịt… trải bạt ra là thành sạp hàng giữa chợ. Thú vị hơn, chợ là nơi mua bán diễn ra nhanh chóng, người bán thách lên một tí, người mua trả giá thập một tí, trao qua đổi lại và cười vui vẻ. Đôi khi mua bó rau nhón xin thêm trái ớt, có lúc người mua cũng dừng lại nói năm ba thứ chuyện trên đời, khiến chợ lúc nào cũng rôm rả.
Chợ tết thơm phức mùi quần áo mới, nơi các gian hàng bán quần áo với đủ loại, cha mẹ đưa con đến lựa mua, rồi đem về cất, đợi đến sáng mồng Một tết mới mặc đón chào năm mới. Hay chợ tết cũng xuất hiện ở một không gian mở trước chợ cũ, chủ yếu bán các mặt hàng "chỉ tết mới có" như các loại hạt, các loại mứt, trái cây chưng tết, bánh tết và các loại tranh in hình bánh tét, trái cây đủ màu sắc để người mua về chưng lên bàn thờ.
Chợ tết còn chộn rộn với các mặt hàng như lá dong, lá chuối, gạo nếp để gói bánh chưng, bánh tét. Bán các loại quả chưng tết như dưa hấu, bưởi, cam quýt, và cả những cành đào, chậu quất từ khắp các miền quê đổ về... Đôi khi đi chợ tết là cái thú để ngắm nhìn, để đi dạo và để được “nghe mùi tết”, nó cũng là cách để cho chúng ta được tận hưởng cảm giác mỗi năm mới có một lần.
Nhớ lúc còn nhỏ, được mẹ cho đi chợ Tết ghé hàng ăn, tô bún xáo lòng hay vài cái bánh rán… những món ăn mà mùi vị của nó cứ đượm mãi trong ký ức tuổi thơ và cũng chỉ được đi chợ Tết mới có dịp được thưởng thức! Với những người có con nhỏ, trong giỏ đi chợ về của mẹ thường có thêm dăm chiếc bánh, gói mứt hay bịch chè gọi là "quà chợ" để tụi nhỏ xúm xít quây quần chia nhau ăn.
Chợ tết chẳng phân biệt giàu nghèo, người mua người bán rôm rả với nhau, bỏ lại sau lưng vô vàn chật vật. Cuộc mua bán có thể chỉ là ký hành về làm kiệu, vài ký thịt, con gà, con cá, ít măng khô, bị mứt… mang về, thế là thành tết.
Những phiên chợ Tết vẫn luôn là một phần quan trọng trong không gian văn hóa Tết Việt. Dẫu cuộc sống hiện tại đã có nhiều đổi thay nhưng những phiên chợ Tết vẫn chứa đựng giá trị văn hóa, tình cảm quê hương đã bám rễ sâu trong tâm khảm bao người mỗi dịp Tết đến, Xuân về.
Theo thống kê chưa đầy đủ, Việt Nam hiện có khoảng 9.000 chợ đang hoạt động, chiếm khoảng 40% tổng mức bán lẻ hàng hóa cả nước, hoạt động theo mô hình mua bán truyền thống. Với hơn 5.200 chợ được xây mới và cải tạo hơn 10 năm qua, tạo khoảng 2,5 triệu việc làm…
Chợ quê xưa qua góc nhìn của các học giả
Không hoành tráng cũng chẳng cầu kỳ nhưng chợ quê vẫn náo nhiệt bởi ở đó có những tiếng cười rôm rả, vẫn lời qua tiếng lại trả giá của người mua kẻ bán chứ không khô khốc, cứng nhắc như những trung tâm mua bán ngày nay. Ở chợ quê, ta thấy một sự chân thành gần gũi ở con người vùng quê qua những phiên chợ, nó như một sợi dây vô hình thắt chặt thêm tình cảm của những con người.
Hàng hóa đem ra bán ở chợ quê cũng không có gì đặc biệt mà chủ yếu là các sản phẩm mang tính cây nhà lá vườn của từng vùng quê, chỉ cần vài con cua, con cá bắt được ở ngoài đồng, vài nải chuối, mấy mớ rau, vài con gà, một ít gạo nếp hay gạo tẻ người ta vẫn mang ra chợ bán hay đổi chác với các sản phẩm khác.
Chơ quê xưa trông tuềnh toàng, đơn giả
Với Việt Nam, xứ nhiệt đới với nền văn minh lúa nước từ cổ xưa đã đẻ ra cái chợ quê mà nó trở thành tâm thức cộng đồng, là yếu tố cấu thành nền văn minh làng xã. Trong nền văn minh ấy, không thể thiếu được chợ quê, bởi nó vừa là quy chuẩn vừa là nhân tố để duy trì mối quan hệ cộng đồng. Vì đó, chợ đã đi vào tâm thức người Việt Nam, hòa vào dòng chảy văn hóa ngàn đời của cư dân Việt với những nét truyền thống khó phai mờ. Dù đơn sơ mộc mạc, nhưng chợ quê vẫn đi vào lòng người bằng những nét chân thật, sâu lắng.
Trong cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương”, học giả Đào Duy Anh viết từ năm 1938, miêu tả về chợ quê: “Ở quê thì cái chợ là nơi dân xung quanh họp nhau mỗi ngày hay mỗi phiên để đổi chác những đồ thổ sản hoặc về nông nghiệp hoặc về công nghiệp, cần dùng cho sinh hoạt hằng ngày. Ngoài những người nhà quê đến chợ để bán thổ sản, còn có ít nhiều người lái buôn chuyến như hàng vải, hàng xén, hàng cau, hàng thuốc, hàng thịt, hàng bánh, cứ gánh hàng đi chợ này chợ khác để bán rong…”.
Chợ quê đi vào tiềm thức mỗi chúng ta bởi nó đơn giản không cầu kỳ, chỉ cần có một bãi đất trống, một bến sông hay một ngôi đình… thì ở đó vẫn hình thành chợ. Chợ quê có chợ mở cố định theo phiên vào những ngày âm lịch, hoặc có những chợ mở hàng ngày, đó chính là một không gian sinh động của đời sống và đã gắn bó với chúng ta qua nhiều thế hệ. Nét văn hóa thiêng liêng đó đi vào lòng người bởi nó là nét chấm phá tiêu biểu hòa vào đời sống mang đậm bản sắc dân tộc. Không những thế, chợ quê còn là nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều thế hệ thi nhân Việt Nam.
Bà Huyện Thanh Quan khi bước tới Đèo Ngang đã có cái nhìn rất tinh tế trước một không gian trầm mặc, nhưng bà vẫn cảm nhận được một điểm nhấn từ xa xa:
"Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà…"
Nhà thơ Đoàn Văn Cừ vương vấn, trầm ngâm với không gian cuối buổi chiều chợ Tết ở một làng quê, để rồi khi cái buồn đè nặng lên mình, ông đã phải thốt lên:
"Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ…"
Còn với nhà thơ Nguyễn Bính, vốn nổi tiếng với những câu thơ mượt mà, nhưng ông cũng có lúc miệt mài trên bước đường giang hồ lưu lạc. Và những lúc lang thang đó, ông đã bộc bạch với bản thân mình, rằng:
"Ta đi nhưng biết về đâu chứ
Đã dấy phong yên lộng bốn trời
Thì cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà khóc thế nhân ơi!"
Trong bài “Bên kia sông Đuống”, Hoàng Cầm đã thể hiện mọi cung bậc cảm xúc khi nhớ về làng quê của mình. Trong những ngày thi nhân theo bước đoàn quân diệt Pháp, nhà thơ bày tỏ niềm vui khi nghĩ đến quê hương mình, và trong niềm vui đó, nhà thơ đã không quên cảnh chợ quê Kinh Bắc bởi ở đó có:
"Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng…"
Xuân đến, trong nhiều thế hệ người Việt lại ùa về không gian xưa, nơi chợ quê là cái gì đó rất thiêng liêng bởi không khí rộn ràng chuẩn bị cho ngày Tết. Ngày nay, khi mà các trung tâm mua sắm ngày càng mọc lên nhiều, hình thức mua bán online cũng nở rộ thì vai trò chợ quê cũng phần nào giảm bớt.
Có lẽ cũng vì thế mà trong nhiều người, Tết đến lại nhớ chợ quê, hày dù gì cũng có chút nào đó liên tưởng về nó, về cái không gian tuềnh toàng, xư cũ mà sao thấy nhớ đến lạ.
Minh Đức