15:46 27/10/2026

Lần theo những tầng sở hữu để tìm “trùm” thực sự

Minh bạch chủ sở hữu hưởng lợi là yêu cầu quan trọng trong phòng, chống rửa tiền. Nhưng truy đến cá nhân cuối cùng vẫn đặt ra thách thức về dữ liệu và xác minh.

Từ ngưỡng sở hữu đến quyền kiểm soát thực tế

Việc xác định chủ sở hữu hưởng lợi đang trở thành một trong những nội dung đáng chú ý trong dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2023/NĐ-CP về phòng, chống rửa tiền. Qua quá trình lấy ý kiến, nhiều cơ quan quản lý và tổ chức báo cáo cùng chỉ ra những khó khăn khi xác định cá nhân thực sự đứng sau doanh nghiệp, đặc biệt với cấu trúc sở hữu nhiều tầng, quan hệ kiểm soát phức tạp hoặc có yếu tố nước ngoài.

Theo nội dung dự thảo được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đưa ra lấy ý kiến, việc xác định chủ sở hữu hưởng lợi (CSHHL) đối với khách hàng là tổ chức được xây dựng theo các tiêu chí về quyền sở hữu và quyền kiểm soát.

Đối với tiêu chí sở hữu, dự thảo quy định việc xác định cá nhân hoặc nhóm cá nhân sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 25% vốn điều lệ hoặc 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của khách hàng. Tuy nhiên, tỷ lệ sở hữu không phải căn cứ duy nhất để nhận diện chủ sở hữu hưởng lợi.

Lần theo những tầng sở hữu để tìm “trùm” thực sự
Ảnh: Minh họa

Trong trường hợp không có cá nhân hoặc nhóm cá nhân nào được xác định theo tiêu chí sở hữu, hoặc có nghi ngờ rằng những người đã được xác định chưa phải là chủ sở hữu hưởng lợi thực sự, tổ chức báo cáo phải tiếp tục xem xét cá nhân kiểm soát khách hàng thông qua các phương thức khác theo pháp luật hoặc trên thực tế.

Quyền kiểm soát có thể thể hiện qua việc bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm các thành viên cơ quan quản trị, điều hành; sửa đổi điều lệ; thay đổi cơ cấu tổ chức; quyết định chính sách tài chính, đầu tư và hoạt động của tổ chức; hoặc quyết định việc tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp.

Nếu vẫn không xác định được chủ sở hữu hưởng lợi theo hai bước trên, dự thảo quy định phương án dự phòng là xác định cá nhân giữ vị trí quản lý cấp cao có quyền hạn lớn nhất để hành động thay mặt tổ chức, trừ trường hợp cá nhân đại diện vốn nhà nước trong tổ chức.

Cách tiếp cận này cho thấy mục tiêu của quy định không dừng ở việc ghi nhận những người có tên trong hồ sơ sở hữu, mà hướng tới nhận diện cá nhân thực sự đứng sau chuỗi sở hữu hoặc có khả năng chi phối hoạt động của khách hàng. Theo giải trình của NHNN, việc sử dụng cụm từ “cuối cùng trên thực tế” nhằm đáp ứng Khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF), qua đó tăng cường tính minh bạch trong xác định chủ sở hữu hưởng lợi.

Tuy nhiên, từ tiêu chí pháp lý đến việc áp dụng trong thực tế vẫn còn khoảng cách đáng kể. Đặc biệt, khi một doanh nghiệp được sở hữu thông qua nhiều pháp nhân trung gian, việc xác định tỷ lệ sở hữu gián tiếp và cá nhân có quyền kiểm soát cuối cùng không đơn giản như trường hợp cổ đông trực tiếp nắm giữ vốn.

Những vướng mắc này đã được phản ánh trong quá trình góp ý dự thảo. Bộ Ngoại giao lưu ý đến đặc thù của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, vốn có thể được thành lập theo pháp luật nước ngoài và có mô hình quản trị khác với doanh nghiệp thông thường. Một số tổ chức không có vốn điều lệ, cổ phần hoặc cá nhân sở hữu theo mô hình doanh nghiệp; quyền quản trị có thể thuộc hội đồng quản lý hoặc cơ quan quản trị tập thể.

Với những trường hợp như vậy, nếu chỉ dựa vào tỷ lệ góp vốn sẽ khó xác định người hưởng lợi thực sự. Tuy nhiên, đồng nhất người quản lý hoặc người đại diện với chủ sở hữu hưởng lợi cũng có thể dẫn đến nhận diện không chính xác.

NHNN cho biết tiêu chí sở hữu và quyền kiểm soát có thể được áp dụng để bao quát các loại hình tổ chức khác nhau. Đối với tổ chức không có cấu trúc sở hữu theo vốn điều lệ hoặc cổ phần, việc xác định có thể dựa vào quyền kiểm soát trên thực tế.

Đây là điểm cần thiết để quy định không chỉ phù hợp với doanh nghiệp có cấu trúc cổ đông thông thường, mà còn có thể áp dụng đối với các tổ chức phi thương mại, quỹ và những mô hình tổ chức đặc thù. Dù vậy, khả năng áp dụng thống nhất vẫn phụ thuộc đáng kể vào hướng dẫn về cách nhận diện quyền kiểm soát trong từng trường hợp cụ thể.

Thiếu dữ liệu độc lập, trách nhiệm còn nhiều câu hỏi

Khó khăn lớn nhất được các tổ chức báo cáo phản ánh không chỉ nằm ở cách hiểu tiêu chí, mà còn ở khả năng thu thập và kiểm chứng thông tin.

Theo ý kiến của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), việc xác định chủ sở hữu hưởng lợi hiện chủ yếu dựa trên thông tin, hồ sơ do khách hàng cung cấp hoặc tự kê khai. Trong khi đó, ngân hàng chưa có đầy đủ công cụ và nguồn dữ liệu để xác minh độc lập tính đầy đủ, chính xác của các thông tin này.

Khó khăn càng lớn khi cấu trúc sở hữu gián tiếp kéo dài qua nhiều tầng, quyền kiểm soát được xác lập thông qua thỏa thuận pháp lý, quỹ đầu tư, quỹ tín thác hoặc các tổ chức xuyên biên giới. Một số thông tin về cổ đông, người góp vốn và người kiểm soát thực tế không được công khai hoặc thường xuyên thay đổi. Việc chưa thể kết nối, khai thác đầy đủ các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành cũng làm tăng áp lực xác minh đối với các tổ chức báo cáo.

Từ những vướng mắc đó, Agribank đề nghị làm rõ phương pháp tính tỷ lệ sở hữu gián tiếp qua nhiều tầng, cách xử lý cơ cấu sở hữu ở nước ngoài thiếu minh bạch, tiêu chí xác định nhóm cá nhân có liên quan và hồ sơ tối thiểu để chứng minh đã thực hiện việc rà soát, xác minh. Ngân hàng này đồng thời đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về chủ sở hữu hưởng lợi, tăng cường cơ chế chia sẻ dữ liệu an toàn giữa cơ quan nhà nước và tổ chức tín dụng, cũng như hướng dẫn trách nhiệm trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp cần thiết nhưng vẫn không thể xác định được chủ sở hữu hưởng lợi.

Các kiến nghị tương tự cũng xuất hiện trong ý kiến của những tổ chức báo cáo khác. Nhiều đơn vị đề nghị có hướng dẫn cụ thể về cách tính tỷ lệ sở hữu gián tiếp qua nhiều tầng, cộng gộp các nhánh sở hữu, xác định nhóm cá nhân có liên quan và xử lý trường hợp không thể tiếp cận thông tin tại tầng sở hữu tiếp theo.

Trước những đề xuất này, NHNN cho biết đang xây dựng Sổ tay hướng dẫn xác định chủ sở hữu hưởng lợi, dự kiến hoàn thành sau khi Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 19/2023/NĐ-CP được ban hành. Các nội dung liên quan đến phương pháp xác định tỷ lệ sở hữu gián tiếp, hồ sơ chứng minh quá trình rà soát và những trường hợp cụ thể được dự kiến xem xét trong tài liệu hướng dẫn này.

Đối với đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về chủ sở hữu hưởng lợi và tăng cường khả năng tiếp cận dữ liệu của tổ chức tín dụng, NHNN cho biết sẽ trao đổi với Bộ Tài chính về cơ chế kết nối, khai thác và chia sẻ thông tin, đồng thời bảo đảm yêu cầu an toàn và bảo vệ dữ liệu.

Một vấn đề khác được đặt ra là giới hạn trách nhiệm của tổ chức báo cáo. Các ngân hàng và doanh nghiệp tài chính cho rằng họ không có đầy đủ thẩm quyền điều tra để xác định đến cùng cá nhân đứng sau mọi chuỗi sở hữu, nhất là khi thông tin thuộc pháp nhân ở nước ngoài hoặc không thể tiếp cận qua các nguồn dữ liệu hợp pháp. Vì vậy, các tổ chức đề nghị có hướng dẫn rõ hơn về những bước cần thực hiện và cách xử lý khi đã áp dụng biện pháp hợp lý nhưng vẫn không thể xác minh.

Theo NHNN, việc xác định chủ sở hữu hưởng lợi phải thực hiện theo trình tự ba bước, trong đó phương án dự phòng chỉ được áp dụng sau khi đã thực hiện các bước xác định theo tiêu chí sở hữu và quyền kiểm soát. Đối với các trường hợp cụ thể, cơ quan soạn thảo cho biết những nội dung cần hướng dẫn sẽ được xem xét trong Sổ tay; các tổ chức báo cáo đồng thời phải cụ thể hóa phương pháp áp dụng trong quy trình nội bộ phù hợp với đặc điểm khách hàng.

Bài toán đặt ra là phải bảo đảm hai yêu cầu song hành: tổ chức báo cáo không thể chỉ dựa vào thông tin tự kê khai để bỏ qua những dấu hiệu cần xác minh, nhưng cũng cần có cơ sở rõ ràng để thực hiện nghĩa vụ khi dữ liệu khách quan chưa đầy đủ.

Bên cạnh tiêu chí pháp lý, cần có hướng dẫn có tính ứng dụng về cách tính sở hữu gián tiếp, xác định quyền kiểm soát, sử dụng nguồn thông tin đáng tin cậy và lưu vết quá trình xác minh. Cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu cũng có ý nghĩa quan trọng, bởi nếu các tổ chức phải tự tìm kiếm trong những nguồn thông tin rời rạc, chi phí tuân thủ có thể tăng trong khi kết quả xác minh vẫn chưa chắc chắn.

Phượng Hòa