08:58 01/10/2026

Ưu đãi thuế xăng dầu kéo dài đến cuối năm

Mốc 30/9 về các chính sách thuế đối với xăng, dầu đã có lời giải khi Chính phủ quyết định kéo dài thời hạn áp dụng một số ưu đãi đến hết năm 2026. Quyết định này tạo thêm dư địa ổn định nguồn cung và giảm áp lực chi phí nhập khẩu, đồng thời giúp doanh nghiệp có cơ sở rõ ràng hơn để tính toán hoạt động trong những tháng cuối năm.

Trước đó, khi thời hạn áp dụng các chính sách cũ sắp kết thúc vào ngày 30/9, một trong những vấn đề được thị trường quan tâm là liệu từ đầu tháng 10 có xuất hiện thay đổi đáng kể về chính sách thuế đối với xăng, dầu hay không.

Ngày 30/9, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 43/2026/NQ-CP, qua đó kéo dài thời hạn áp dụng một số chính sách về thuế nhập khẩu ưu đãi, thuế bảo vệ môi trường và thuế giá trị gia tăng đối với xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất xăng, dầu và nhiên liệu bay đến hết ngày 31/12/2026. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1/10/2026.

Việc ban hành văn bản ngay trước khi chính sách cũ hết hạn giúp tránh một khoảng trống về hiệu lực, đồng thời tạo sự liên tục cho việc áp dụng các chính sách thuế trong một lĩnh vực có tác động trực tiếp đến chi phí vận tải, sản xuất và tiêu dùng.

Ưu đãi thuế xăng dầu kéo dài đến cuối năm
Chính phủ kéo dài một số chính sách ưu đãi thuế đối với xăng, dầu và nguyên liệu sản xuất xăng, dầu đến hết ngày 31/12/2026.

Chính sách thuế được nối dài qua năm 2026

Đối với thuế nhập khẩu ưu đãi, Nghị quyết 43/2026/NQ-CP kéo dài thời hạn áp dụng Nghị quyết 25/2026/NQ-CP ngày 30/4/2026 và Nghị định 72/2026/NĐ-CP ngày 9/3/2026 đến hết ngày 31/12/2026. Đây là cơ chế đã được Chính phủ điều chỉnh và gia hạn qua nhiều giai đoạn trong năm 2026, trước khi tiếp tục được nối dài bằng nghị quyết mới.

Theo Nghị định 72/2026/NĐ-CP, một số mặt hàng thuộc nhóm xăng động cơ không pha chì và nguyên liệu pha chế xăng được giảm thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi từ 10% xuống 0%. Một số nhóm nhiên liệu diesel, dầu nhiên liệu, nhiên liệu động cơ máy bay và kerosine được giảm từ 7% xuống 0%. Một số nguyên liệu hóa dầu khác cũng được áp dụng mức 0% theo các nhóm hàng được quy định trong nghị định.

Điểm cần lưu ý là đây là thuế nhập khẩu ưu đãi đối với các mặt hàng thuộc phạm vi quy định, không phải toàn bộ hàng hóa xăng, dầu đều mặc nhiên áp dụng một mức thuế 0%. Việc áp dụng trên thực tế vẫn phải căn cứ vào chủng loại hàng hóa, mã HS và quy định tương ứng của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Cùng với thuế nhập khẩu, Nghị quyết 43 cũng kéo dài đến hết ngày 31/12/2026 các quy định về thuế bảo vệ môi trường và thuế giá trị gia tăng đối với xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất xăng, dầu và nhiên liệu bay theo Điều 1 và Điều 2 Nghị quyết 19/2026/QH16 của Quốc hội.

Theo Nghị quyết 19/2026/QH16, mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, trừ etanol, cùng dầu diesel và nhiên liệu bay được áp dụng ở mức 0 đồng/lít trong thời gian chính sách có hiệu lực. Xăng, dầu diesel, dầu hỏa, dầu mazut và nhiên liệu bay thuộc phạm vi quy định cũng tiếp tục thực hiện cơ chế về thuế giá trị gia tăng được nêu tại nghị quyết.

Trong khi đó, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng không nằm trong phần được Nghị quyết 43 kéo dài mà tiếp tục thực hiện theo Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt số 66/2025/QH15 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Việc tách riêng sắc thuế này có ý nghĩa quan trọng khi đánh giá tác động của chính sách, bởi không thể đồng nhất tất cả các loại thuế đang áp dụng đối với xăng, dầu thành một cơ chế ưu đãi duy nhất.

Như vậy, từ ngày 1/10/2026, các chính sách được Nghị quyết 43 kéo dài tiếp tục có hiệu lực đến hết ngày 31/12/2026. Bộ Công Thương cũng đã có văn bản thông tin tới các thương nhân để chủ động áp dụng, tính toán và quyết định giá bán các mặt hàng xăng dầu phù hợp với thời điểm nghị quyết có hiệu lực.

Thêm dư địa ổn định nhưng giá xăng vẫn phụ thuộc thị trường

Việc kéo dài ưu đãi thuế không có nghĩa giá bán lẻ xăng, dầu sẽ đứng yên hoặc tự động giảm trong những tháng tới.

Giá xăng dầu trong nước vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có diễn biến giá xăng dầu thế giới, tỷ giá, chi phí kinh doanh và các yếu tố được tính trong cơ chế điều hành giá. Vì vậy, tác động của chính sách thuế cần được hiểu trước hết là tạo thêm một điều kiện thuận lợi cho chi phí đầu vào và khả năng duy trì nguồn cung, chứ không phải một mức giảm giá bán lẻ được ấn định sẵn.

Đây cũng là điểm đáng chú ý sau những biến động giá trong các kỳ điều hành gần đây. Ngay cả khi giá một loại sản phẩm trên thị trường quốc tế giảm, giá trong nước vẫn có thể vận động theo hướng khác do giá cơ sở được hình thành từ nhiều thành phần. Ngược lại, khi một chính sách thuế được giữ nguyên, điều đó cũng không đủ để dự báo chính xác giá bán lẻ của kỳ tiếp theo.

Nghị quyết 43 cho thấy mục tiêu của việc kéo dài chính sách không chỉ nằm ở việc giảm áp lực chi phí trước mắt. Bộ Tài chính cho biết việc tiếp tục áp dụng các ưu đãi thuế trong bối cảnh diễn biến giá xăng dầu thế giới và khu vực, xung đột tại Trung Đông, lạm phát và tăng trưởng kinh tế còn nhiều biến động được kỳ vọng góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ phục hồi sản xuất, kinh doanh.

Một mục tiêu khác được nhấn mạnh là tạo điều kiện để doanh nghiệp đa dạng hóa nguồn cung, giảm rủi ro phụ thuộc vào một số thị trường nhập khẩu truyền thống và duy trì nguồn cung trong nước trong các tình huống khác nhau.

Ở góc độ thị trường, đây có thể được xem là phần quan trọng nhất của chính sách mới. Xăng, dầu không chỉ là một nhóm hàng tiêu dùng mà còn là đầu vào của vận tải, sản xuất, logistics và nhiều hoạt động dịch vụ. Khi doanh nghiệp có thêm khả năng dự báo về chính sách thuế trong ba tháng cuối năm, việc lập kế hoạch nhập hàng, hợp đồng vận chuyển hay tính toán chi phí sản xuất cũng có thêm cơ sở ổn định.

Tuy nhiên, mức độ tác động đến từng doanh nghiệp sẽ khác nhau. Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp có thể quan tâm nhiều hơn đến thuế nhập khẩu ưu đãi; doanh nghiệp vận tải chịu ảnh hưởng rõ hơn từ giá bán thực tế tại thị trường; trong khi người tiêu dùng cuối cùng tiếp nhận tác động thông qua giá xăng tại các kỳ điều hành và chi phí của hàng hóa, dịch vụ.

Bởi vậy, việc kéo dài ưu đãi thuế đến hết năm 2026 có thể được nhìn nhận như một bước ổn định khung chính sách, thay vì một cam kết về mặt bằng giá xăng dầu cố định.

Sau mốc 30/9, câu hỏi của thị trường vì thế cũng thay đổi. Trọng tâm không còn là việc chính sách có hết hiệu lực đột ngột hay không, mà là các ưu đãi đang được duy trì sẽ tương tác thế nào với giá dầu thế giới, tỷ giá và nguồn cung trong nước trong từng kỳ điều hành.

Với người dân và doanh nghiệp, điều đáng theo dõi trong thời gian tới vẫn là giá bán thực tế và các yếu tố cấu thành giá. Còn về chính sách, việc kéo dài đến ngày 31/12/2026 ít nhất đã tạo ra một khoảng thời gian rõ ràng hơn để thị trường chủ động tính toán chi phí, thay vì phải đối mặt với một mốc thay đổi thuế ngay khi bước sang tháng mới.

Đinh Toàn