Room tín dụng thu hẹp, yêu cầu giảm lãi suất cho vay và áp lực cân đối nguồn vốn đang đặt các ngân hàng trước bài toán khó: duy trì đà tăng trưởng tín dụng nhưng vẫn bảo vệ biên lãi ròng.
Biên lãi ròng chịu sức ép
Quý IV/2026, ngành ngân hàng đối mặt với những sức ép đan xen khi nhu cầu vốn của nền kinh tế vẫn hiện hữu, trong khi dư địa tăng trưởng tín dụng tại một số tổ chức tín dụng dần thu hẹp. Không chỉ phải tính toán lại kế hoạch giải ngân, các ngân hàng còn đứng trước yêu cầu cân đối chi phí huy động, lãi suất cho vay và hiệu quả sử dụng vốn.
Theo báo cáo cập nhật ngành ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026 của FiinRatings, biên lãi ròng toàn ngành giảm xuống khoảng 2,8%. Trong khi đó, tín dụng tại 30 ngân hàng được đơn vị này theo dõi tăng 7,41%, cao hơn mức tăng 5,02% của huy động từ khách hàng. Chênh lệch giữa cho vay và tiền gửi lên tới 1.673 nghìn tỷ đồng, cho thấy áp lực cân đối nguồn vốn vẫn hiện hữu.
Áp lực này càng rõ khi chính sách điều hành yêu cầu hài hòa giữa mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn và bảo đảm an toàn hệ thống. Theo phân tích từ Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) về Công văn số 9608/NHNN-CSTT ngày 18/10/2026 yêu cầu đưa số dư phát sinh trong năm từ nghiệp vụ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng (L/C) do chính ngân hàng phát hành vào hạn mức tăng trưởng tín dụng khiến một số ngân hàng phải tính toán lại phần dư địa còn lại cho hoạt động cho vay và các nghiệp vụ liên quan. Khi hạn mức trở nên chặt chẽ hơn, việc đẩy mạnh giải ngân không còn đơn thuần là tìm kiếm khách hàng, mà còn đòi hỏi lựa chọn khoản vay có hiệu quả, phù hợp với khả năng nguồn vốn và mức độ chấp nhận rủi ro.
Các ngân hàng xoay sở để giữ biên lãi ròng (Ảnh: Minh họa)
Bên cạnh đó, yêu cầu giảm lãi suất tạo thêm thách thức đối với khả năng duy trì biên lãi ròng. Theo nội dung công văn được VDSC phân tích, các tổ chức tín dụng được yêu cầu giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm mỗi năm đối với lãi suất tiền gửi niêm yết từ kỳ hạn sáu tháng trở lên, đồng thời giảm 1,5–2 điểm phần trăm mỗi năm đối với lãi suất cho vay trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên.
Trong hai ngày 19 và 20/10, ít nhất 19 ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động, với mức giảm phổ biến 0,5 điểm phần trăm ở các kỳ hạn từ sáu tháng. Đến ngày 29/10 theo tìm hiểu của Thương Trường đã có ít nhất 25 ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất tùy thời gian và điều kiện. Tuy nhiên, việc giảm lãi suất niêm yết chưa đồng nghĩa chi phí vốn bình quân giảm ngay lập tức. Các khoản tiền gửi cũ chỉ được tái định giá khi đáo hạn, trong khi lãi suất cho vay có thể giảm nhanh hơn đối với cả khoản vay hiện hữu và khoản vay mới.
Độ trễ này khiến biên lãi ròng có nguy cơ tiếp tục chịu sức ép. Nếu thu nhập từ cho vay giảm trước khi chi phí huy động được điều chỉnh tương ứng, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng sẽ bị ảnh hưởng.
Phân hóa lợi thế, tìm động lực lợi nhuận mới
Áp lực bảo vệ biên lãi ròng không giống nhau giữa các ngân hàng, bởi mỗi tổ chức có cơ cấu khách hàng, nguồn vốn và danh mục tín dụng khác nhau.
Theo số liệu được VDSC dẫn trong bài phân tích, tỷ trọng cho vay các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh tại VietinBank đạt khoảng 66%, MB khoảng 57%, Vietcombank khoảng 56% và BIDV khoảng 51%. Đây là những ngân hàng có mức độ tiếp xúc trực tiếp lớn hơn với yêu cầu giảm lãi suất cho vay ở các lĩnh vực này. Trong khi đó, Techcombank, VPBank, VIB và ACB có tỷ trọng cho vay các lĩnh vực nói trên dưới 30%, qua đó có thể chịu tác động trực tiếp thấp hơn về mặt lý thuyết.
Tuy nhiên, tỷ trọng cho vay chỉ là một yếu tố trong bức tranh tổng thể. Khả năng bảo vệ biên lãi ròng còn phụ thuộc vào tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn, chi phí huy động bình quân, cơ cấu kỳ hạn tài sản – nguồn vốn và khả năng định giá khoản vay. Những ngân hàng có nguồn tiền gửi chi phí thấp, tệp khách hàng ổn định và hệ sinh thái dịch vụ đa dạng thường có thêm dư địa để ứng phó với biến động lãi suất.
Trong bối cảnh đó, tăng trưởng tín dụng không còn là thước đo duy nhất phản ánh triển vọng lợi nhuận. Báo cáo của FiinRatings cho biết thu nhập phí trong nửa đầu năm 2026 tăng 49,7%, chủ yếu đến từ các hoạt động thanh toán, L/C và bảo lãnh. Đây là một trong những nguồn thu có thể hỗ trợ ngân hàng giảm bớt sự phụ thuộc vào thu nhập lãi, dù mức độ đóng góp khác nhau tùy mô hình kinh doanh.
Dẫu vậy, mở rộng nguồn thu ngoài lãi không phải giải pháp có thể thay thế hoàn toàn hoạt động tín dụng. Các ngân hàng vẫn cần đầu tư công nghệ, phát triển sản phẩm và mở rộng tệp khách hàng để tạo nguồn thu dịch vụ bền vững. Đồng thời, việc đa dạng hóa nguồn huy động, kiểm soát chi phí hoạt động và nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng cũng có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả sinh lời.
Một thách thức khác là duy trì chất lượng tài sản trong quá trình mở rộng dư nợ. Theo FiinRatings, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ở mức khoảng 1,9% trong nửa đầu năm 2026, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm xuống khoảng 80%. Diễn biến này cho thấy các ngân hàng cần thận trọng với chất lượng khoản vay và năng lực dự phòng, nhất là khi áp lực hoàn thành kế hoạch kinh doanh cuối năm gia tăng.
Trong điều kiện dư địa tín dụng không đồng đều, ngân hàng còn room chưa chắc đã có lợi thế tuyệt đối. Khả năng giải ngân thực tế vẫn phụ thuộc vào nhu cầu vay vốn, chất lượng khách hàng, nguồn vốn sẵn có và mức sinh lời có thể đạt được sau khi tính đủ chi phí và rủi ro.
Vì vậy, bài toán trong những tháng cuối năm không chỉ là bảo vệ biên lãi ròng trong ngắn hạn, mà còn là tìm kiếm mô hình tăng trưởng cân bằng hơn. Ngân hàng cần phân bổ vốn vào những khoản vay có hiệu quả, kiểm soát chi phí huy động, phát triển thu nhập dịch vụ và duy trì kỷ luật tín dụng.
Khi tăng trưởng dư nợ không còn bảo đảm lợi nhuận tăng tương ứng, năng lực quản trị chênh lệch lãi suất, chất lượng tài sản và cơ cấu nguồn vốn sẽ ngày càng quyết định sức cạnh tranh của từng ngân hàng. Cũng là phép thử đối với khả năng duy trì tăng trưởng bền vững của ngành trong giai đoạn cuối năm 2026.
Phượng Hòa